Trang chủ Lịch Sử Lớp 7 Câu 18:Hãy chỉ ra điểm giống và khác nhau trong...

Câu 18:Hãy chỉ ra điểm giống và khác nhau trong việc xây dựng quân đội và củng cố quốc phòng của nhà Trần so với thời Lý? Câu 19 :Qua cuộc kháng chiến chốn

Câu hỏi :

Giải hộ mình với chiều thi rr

image

Lời giải 1 :

Câu 1:

- Giống nhau: Cùng thực hiện chính sách "ngụ binh ư nông" 

- Khác nhau: 

+ Quân đội nhà trần được chia làm hai loại:cấm quân và quân ở các lộ,cấm quân là đạo quân bảo vệ kinh thành,triều đình và vua.chính binh đóng ở các lộ đồng bằng,phiên binh đóng ở các lộ miền núi, hương binh đóng ở các làng, xã.khi có chiến tranh, còn có các quân đội của các vương hầu.

+ Quân đội nhà lý chỉ được phân chia thành hai loại:cấm quân và quân địa phương. 

+ Quân đội nhà trần được xây dựng theo chủ trương:"quân lính cốt tinh nhuệ,không cốt đông

Câu 2:

Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của dân ta. Lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng và giữ nước của cha ông cho thấy lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn. Trần Quốc Tuấn chỉ ra nguyên nhân căn bản làm nên thắng lợi của quân dân đời Trần thế kỷ XIII trong ba lần kháng chiến chống Mông - Nguyên là “vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức”. Ông dặn vua Trần “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”. Nguyễn Trãi từng nghe “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” đi tới đúc kết trong Bình Ngô đại cáo: 

“Nêu hiệu gậy làm cờ, tụ họp bốn phương dân chúng.

Thết quân rượu hòa nước, dưới trên đều một bụng cha con”. 

Theo Nguyễn Trãi, vận nước thịnh hay suy, mất hay còn là do sức mạnh của dân quyết định. Ông chỉ rõ “chở thuyền là dân. Lật thuyền là dân. Thuyền bị lật mới biết sức dân như nước”. Thời Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Quang Trung trong các cuộc chiến đấu, lúc thắng lúc bại, nhưng rồi cuối cùng vẫn thắng vì dân ta đoàn kết và kiên gan, “đồng tâm, hiệp lực mấy phen đuổi tàu”

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định chỉ rõ: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”

Từ khi Đảng ta ra đời và lãnh đạo cách mạng, đoàn kết gắn với lãnh đạo tổ chức chặt chẽ. Các hình thức mặt trận ra đời để tăng cường sức mạnh đoàn kết. Phong trào Mặt trận dân chủ Đông Dươngnhững năm 1936-1939, bên cạnh những ưu điểm lớn, cũng để lại bài học kinh nghiệm quý báu về lòng dân và đoàn kết như Bác Hồ đã chỉ ra: “Nó dạy cho chúng ta rằng: Việc gì đúng với nguyện vọng của nhân dân thì được nhân dân ủng hộ và hăng hái đấu tranh, và như vậy mới thật là một phong trào quần chúng. Nó cũng dạy cho chúng ta rằng: Phải hết sức tránh những bệnh chủ quan hẹp hòi”.Tiếp đó, với chính sách của Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương, một luồng gió mới về đoàn kết được thổi đến. Những cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, Bắc Sơn, Đô Lương cho thấy đồng bào ta quyết nối gót tổ tiên, phấn đấu hy sinh đặng phá tan xiềng xích, giành tự do độc lập. Nhưng việc lớn chưa thành mà nguyên nhân như Bác Hồ chỉ ra là “không phải vì đế quốc mạnh, nhưng một là vì cơ hội chưa chín, hai là vì dân ta chưa hiệp lực đồng tâm”(4).

Để thực hiện nhiệm vụ đánh đuổi Pháp, Nhật, khởi nghĩa giành chính quyền, khôi phục lại độc lập tự do, Bác Hồ nhấn mạnh dân ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn. Người kêu gọi:

“Hỡi ai con cháu Rồng Tiên!

Mau mau đoàn kết vững bền cùng nhau.

Bất kỳ nam nữ, giàu nghèo,

Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn.

Người giúp sức, kẻ giúp tiền,

Cùng nhau giành lấy chủ quyền của ta”(5)

Đúc kết các bài học kinh nghiệm quý báu của tổ tiên và mấy chục năm đầu khi Đảng ta vừa ra đời, từ năm 1941, với quyết định “thay đổi chiến lược” tại Hội nghị Trung ương 8 (5/1941), Đảng ta và Bác Hồ đã đem lại một sinh khí mới, một năng lượng và xung lực mới cho đại đoàn kết toàn dân tộc.

Để phù hợp với tình hình thay đổi và xuất phát từ thực tiễn, mà thực tiễn lớn nhất từ khi dân ta chịu ách áp bức một cổ hai tròng cả Pháp và Nhật là yêu cầu, nguyện vọng bức thiết của nhân dân, Đảng ta nhận định cuộc cách mạng trước mắt của Việt Nam là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, chỉ giải quyết một vấn đề cần kíp giành tự do độc lập. Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới quyền lợi giải phóng của toàn thể dân tộc.

Đảng chỉ rõ chiến thuật vận động là làm thế nào có lợi cho việc cốt yếu đánh đuổi Pháp - Nhật, thực hiện cho được cách mạng giải phóng dân tộc. Đảng ta xác định điều cốt tủy là phải có một phương pháp làm sao đánh thức được lòng yêu nước và tinh thần dân tộc trong nhân dân Việt Nam. Xác định tên gọi của mặt trận phải thể hiện được một mãnh lực dễ hiệu triệu và có thể thực hiện được trong tình hình thực tiễn lúc bấy giờ, Đảng ta và Hồ Chí Minh quyết định tên gọi mặt trận là Việt Nam độc lập đồng minh, nói tắt là Việt Minh. Khẩu hiệu chính của Việt Minh là đoàn kết toàn dân, chống Nhật, chống Pháp, tranh lại độc lập, hoãn cách mạng ruộng đất.

Câu 3:

Giống câu 1)

hoidap247

duynduyn24

Thảo luận

-- Sap chép vào à mà nhanh thế bn

Lời giải 2 :

Câu 18 :

- Giống nhau:cùng thực hiện chính sách "ngụ binh ư nông"
- Khác nhau:
+Quân đội nhà trần được chia làm hai loại:cấm quân và quân ở các lộ,cấm quân là đạo quân bảo vệ kinh thành,triều đình và vua.chính binh đóng ở các lộ đồng bằng,phiên binh đóng ở các lộ miền núi,hương binh đóng ở các làng,xã.khi có chiến tranh,còn có các quân đội của các vương hầu
+Quân đội nhà lý chỉ được phân chia thành hai loại:cấm quân và quân địa phương.
+Quân đội nhà trần được xây dựng theo chủ trương:"quân lính cốt tinh nhuệ,không cốt đông.

Câu 19 : 

Chiến tranh đã đi qua, đau thương mất mát đã dần vơi dịu nhưng mỗi khi nghe các ca khúc cách mạng thời kì chống Mỹ, bức tranh toàn cảnh về cuộc kháng chiến của dân tộc ta lại hiện lên rõ nét. Có những bài ca làm sống dậy hình ảnh những đoàn quân trùng trùng điệp điệp với khí thế hào hùng của tuổi thanh xuân “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước mà lòng phơi phới dậy tương lai”; lại có những bài ca làm người nghe xúc động, bởi tình yêu, niềm tin son sắt mà quân và dân ta đã dành trọn cho Đảng, cho Bác… Nhìn chung, hàng nghìn ca khúc ra đời trong thời kì kháng chiến chống Mĩ đã trở thành những bản anh hùng ca bất hủ ngợi ca tinh thần đấu tranh bất khuất, truyền thống yêu nước nồng nàn của dân tộc ta.

Trải qua 21 năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954 - 1975), nhân dân Việt Nam anh hùng đã giương cao ngọn cờ cách mạng, quyết hi sinh xương máu để giành lại độc lập tự do cho dân tộc. Trong sự hi sinh đó phải nói đến sự cống hiến của đội ngũ trí thức mà trước hết là sự đóng góp của các nhà thơ, các nhạc sĩ. Họ là những người lính vừa cầm bút, vừa cầm súng đi dọc chiều dài của cuộc kháng chiến gian khổ để viết nên những bản hùng ca bất diệt về truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm của quân và dân ta.

Trong hàng nghìn ca khúc đó trước hết là những ca khúc tiêu biểu, như: “Anh vẫn hành quân”, “Cùng anh tiến quân trên đường dài”, “ Trên đỉnh Trường Sơn ta hát”, “Đường chúng ta đi”, “Nổi lửa lên em” ( Huy Du); “Biết ơn Võ Thị Sáu” (Nguyễn Đức Toàn); “Bài ca Hà Nội” Vũ Thanh; “Người chiến sĩ ấy” (Hoàng Vân); “Đêm Trường Sơn nhớ Bác” (Trần Chung); “Xuân chiến khu”, “Bài ca may áo” (Xuân Hồng); “Tiến về Sài Gòn”, “Bài ca xuống đường”, “Ca ngợi Hồ Chủ Tịch”, “Tình Bác sáng đời ta”, “Thanh niên ba sẵn sàng”, “ Giải phóng miền Nam” (Lưu Hữu Phước); “Cô gái mở đường”(Xuân Giao); “Bài ca trường Sơn” (Trần Chung); “Tự nguyện” (Trương Quốc Khánh); “Ta tự hào đi lên ôi Việt Nam” (Nhạc Chu Minh, lời thơ: Hoàng Trung Thông); “Cuộc đời vẫn đẹp sao”, “Hành khúc ngày và đêm;” “ Đảng đã cho ta một mùa xuân”, “Như có Bác trong ngày vui đại thắng” (Phạm Tuyên),…

Tháng 5 năm 1954, chiến thắng Điện Biên đã đánh dấu một mốc son lịch sử của dân tộc Việt Nam. Nhưng nước ta chưa được thống nhất trọn vẹn, đất nước vẫn bị chia cắt hai miền: Nam - Bắc. Những chiến sĩ trong đoàn quân giải phóng Điện Biên nay lại có mặt trong đoàn quân trùng trùng ra trận, xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”.

Các ca khúc được sáng tác trong thời kỳ này đều thể hiện lòng yêu nước, tinh thần đấu tranh quật cường của quân và dân hai miền. Mỗi một ca khúc ra đời như tiếp thêm tinh thần và sức mạnh cho tiền tuyến.

Bao năm dài dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, dân tộc ta vô cùng lầm than, cực khổ. Từ khi có Đảng, có Bác Hồ cuộc sống của nhân dân ta ấm no, hạnh phúc. Cả dân tộc được đón những mùa xuân đâm chồi nảy lộc, nhân dân một lòng đi theo Đảng, đồng tâm đánh đuổi kẻ thù xâm lược, xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, giàu đẹp. Điều này được thể hiện rõ trong ca khúc “Đảng cho ta một mùa xuân” của nhạc sĩ Phạm Tuyên, ra đời năm 1957. Đây là một ca khúc tiêu biểu có sức sống mãnh liệt, mãi mãi đi cùng năm tháng, đồng hành với dân tộc Việt Nam. Bài hát viết ở nhịp 3/8, giọng Dur. Với tính chất trong sáng, nhịp độ vừa phải, lời ca giản dị nhưng tràn đầy tự hào và niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng: “Bao năm khổ đau đất nước ta không mùa xuân, cuộc đời tăm tối chốn lao tù bao hờn căm. Vầng dương hé sáng khi khắp nơi ta có Đảng, bóng tối lui dần tiếng chim vui hót vang. Và rồi từ đây ánh dương xây đời mới, tiến theo cờ Đảng là thấy tương lai sáng tươi”.

Trong cuộc chiến chống Mỹ, nhân dân hai miền Nam - Bắc đã không tiếc máu xương, hi sinh vì độc lập của Tổ quốc. Trong sự hi sinh lớn lao đó có sự đóng góp của bao thế hệ thanh niên Việt Nam. Họ là những chàng trai, cô gái cày cấy trên đồng ruộng; những anh chị công nhân hăng hái trong xưởng lò, những nam nữ sinh viên miệt mài sách vở… Nhưng khi đất nước lâm nguy đã sẵn sàng lên đường ra trận. Tuổi thanh xuân trải dọc những cánh rừng, con suối, nơi chiến trường đầy khói lửa. Dù cuộc sống có gian khổ đến đâu, những chàng trai, cô gái vẫn lạc quan, yêu đời, tin vào ngày mai tất thắng “Mỹ sẽ cút, Ngụy sẽ nhào (…) Lòng khắc sâu vì nợ nước thù nhà, không có gì quý hơn độc lập tự do. Cuộc đấu tranh này ta là người chiến thắng… Đi lên thanh niên, gian khó không cản được ta. Chẳng kẻ thù nào ngăn nổi bước ta đi.”

Ca khúc “Chẳng kẻ thù nào ngăn nổi bước ta đi” (Nhạc: Thanh Phúc, Lời: Tô Hải và Thanh Phúc) với tính chất hành khúc, khỏe khoắn, kết hợp với lời ca mang tính hiệu triệu, ca khúc đã nhanh chóng lan tỏa khắp mọi miền của Tổ quốc. Với lời ca thôi thúc“Đi ta đi, kèn lệnh đã nổi lên rồi. Lời hịch như tiến quân ca. Tiến lên đi! Cùng tiến lên đi!...” cùng tiết tấu âm nhạc sôi nổi, ca khúc như tiếp thêm sức mạnh, nghị lực cho bộ đội ta vượt qua mọi khó khăn, gian khổ.

Tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chí quyết tâm chiến đấu của quân dân ta luôn gắn liền với niềm tin yêu Đảng, Bác Hồ. Đề tài về Đảng, Bác chiếm phần nhiều trong các ca khúc. Mỗi bước hành quân ra trận đều có Đảng, Bác soi đường dẫn lối. Điều đó được thể hiện qua ca khúc “Bác đang cùng chúng cháu hành quân” (Huy Thục):

“Đêm nay trên đường hành quân ra mặt trận, trùng trùng đoàn quân tiến bước theo con đường của Bác. Nở ngàn hoa chiến công ta dâng lên Người. Dâng lên tới Đảng cả niềm tin chiếu sáng ngời (…) Đi, ta đi giải phóng miền Nam khi quê nhà vẫn còn bóng quân xâm lược thì ta còn chiến đấu quét sạch nó đi, lời Bác thúc giục chúng ta. Chiến đấu cho quê nhà Nam Bắc hòa lời ca. (…) Bác kính yêu đang cùng chúng cháu hành quân”.

Khi miền Nam đang chìm trong khói lửa, thì miền Bắc với tinh thần: “Gạo không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”. Bởi vậy, trên mọi miền quê nơi hậu phương, những người phụ nữ đã thay chồng đảm đang trên đồng ruộng. Họ cũng là những chiến sỹ trên mặt trận sản xuất, vững tay súng, đảm tay cày. Trong ca khúc“Đường cày đảm đang” của nhạc sỹ An Chung, tác giả đã viết:

“Từ ngày anh đi việc đồng em giỏi giang, ruộng cấy chăng dây cây lúa thẳng hàng đào đắp mương dẫn nước quanh làng. Tiếng hát ba đảm đang… Cùng vì quê hương, lời Bác còn vang giết giặc anh sẵn sàng cứu nước, em đảm đang dù bao gian khổ tiếng ca vẫn rộn ràng…”

Trên chiến trường đạn lửa, biết bao chiến sĩ đã hi sinh anh dũng. Họ không tiếc máu xương, sẵn sàng hiến dâng cả tuổi thanh xuân của mình vì nền độc lập tự do của Tổ quốc; tinh thần yêu nước càng được thể hiện nổi bật trong từng lời ca, từng giai điệu của ca khúc“Tự nguyện” (Trương Quốc Khánh)

“Nếu là chim, tôi sẽ là loài bồ câu trắng. Nếu là hoa, tôi sẽ là một đóa hướng dương. Nếu là mây, tôi sẽ là một vầng mây ấm. Là người, tôi sẽ chết cho quê hương,…”

Từ 1966 đến năm 1972 là thời kỳ quyết liệt nhất của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đế quốc Mỹ điên cuồng leo thang bắn phá miền Bắc. Hà Nội, trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của cả nước bị bắn phá ác liệt. Với quyết tâm bảo vệ thủ đô, bảo vệ miền Bắc, quân và dân ta đã chiến đấu ngoan cường. Những ụ pháo được mọc lên trên khắp phố phường của thủ đô Hà Nội nhằm đập tan những đợt không kích của máy bay Mỹ. Ca khúc Bài ca Hà Nội của nhạc sỹ Vũ Thanh đã ghi lại dấu ấn sâu sắc về cuộc chiến đấu của đồng bào thủ đô trong những ngày lịch sử này:

“Ơi cô gái ơi! Súng trên vai sao vuông đầu mũ em đi về đâu mà mắt em tươi sáng, em đi về đâu mà chân bước hiên ngang (…) Anh chiến sỹ ơi! Đã bao đêm canh bên nòng súng, ngắm những đường phố mà thấy sao tha thiết. Ôi thủ đô thịt da máu xương ta…”.

Ca khúc với giai điệu trữ tình, khắc họa bức tranh đầy màu sắc trong cuộc chiến hào hùng của người chiến sỹ Hà Nội. Đặc biệt, tác giả đã xây dựng được hình tượng người nữ dân quân tự vệ thủ đô sát cánh bên người chiến sỹ một cách sinh động nhất. Hình ảnh đẹp của cô gái với sao vuông trên mũ trong lời ca, cùng với giai điệu trữ tình, thiết tha đã đem lại những xúc cảm mãnh liệt, những ấn tượng sâu sắc trong lòng người nghe.

Ngày 2 tháng 9 năm 1969, Bác Hồ - vị cha già kính yêu của dân tộc, vị lãnh tụ thiên tài của đất nước đã qua đời. Người ra đi trong khi cuộc đấu tranh đánh đuổi đế quốc Mỹ còn dang dở, đất nước vẫn còn bị chia cắt hai miền. Ước nguyện của Bác trước lúc ra đi là nước nhà thống nhất. Ca khúc “Người là niềm tin tất thắng” được nhạc sỹ Chu Minh sáng tác trong giờ phút xúc động vô bờ bến, đầy nước mắt; Bác ra đi nhưng hình ảnh của Người sống mãi với non sông đất nước:

“Đất nước nghiêng mình, đời đời nhớ ơn tên Người sống mãi với non sông Việt Nam…Hồ Chí Minh Bác Hồ Chí Minh Đẹp nhất tên Người, rạng rỡ núi sông. Vì độc lập tự do đường lên phía trước rực màu cờ sao. Hồ Chí Minh Bác Hồ Chí Minh kính yêu Người là niềm tin tất thắng sáng ngời.”

Nội dung ca khúc nói lên nỗi thương tiếc vô hạn, ghi nhớ công lao to lớn của Bác đối với đất nước. Thể hiện sự quyết tâm đồng lòng “Nén đau thương thành hành động”của cả dân tộc Việt Nam đứng lên đấu tranh đánh đuổi đế quốc Mỹ giành độc lập tự do.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi cả đất nước ta đang ngập tràn trong niềm vui, thống nhất, ca khúc bất hủ Như có Bác trong ngày đại thắng của nhạc sĩ Phạm Tuyên đã ra đời. Bài hát được phát trên làn sóng đài tiếng nói Việt Nam, được mọi người yêu thích và hát thuộc ngay sau đó:

“Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng, lời Bác nay đã thành chiến thắng huy hoàng…Việt Nam Hồ chí Minh! Việt Nam Hồ Chí Minh!”.

Bài hát ngắn gọn, âm nhạc rộn ràng, lời ca súc tích, ghi dấu tên đất nước, tên Người:“Việt Nam - Hồ Chí Minh” đã trở thành điều bất hủ của dân tộc Việt Nam. Ca khúc có giá trị và tác dụng nuôi dưỡng tâm hồn mỗi người dân Việt Nam, nó như là máu là thịt của con người, là niềm tự hào của dân tộc.

Chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975 là bản anh hùng ca bất diệt của dân tộc ta. Cả thế giới đã biết đến dân tộc Việt Nam, một dân tộc có truyền thống yêu nước và tinh thần đấu tranh bất khuất. Để có được ngày chiến thắng oanh liệt đó, nhân dân ta đã phải đổ biết bao xương máu. Trong những năm dài đấu tranh gian khổ ấy, quân và dân ta luôn sát cánh bên nhau, chia sẻ khó khăn vất vả, một lòng đi theo Đảng. Các ca khúc ra đời trong thời kỳ này hầu hết đều mang tính chiến đấu, thể hiện lòng quyết tâm đánh đuổi đế quốc Mỹ của quân và dân cả nước. Dù trong mưa bom bão đạn, dù biết cái chết có thể đến bất cứ lúc nào nhưng tất cả vẫn thể hiện một tinh thần lạc quan, yêu đời, tin tưởng vào ngày mai chiến thắng.

Các ca khúc sáng tác từ 1954 -1975 là những bản hùng ca cách mạng thể hiện đậm nét truyền thống yêu nước, ý chí quật cường, niềm tự hào dân tộc. Chúng có sức sống mãnh liệt, khơi dậy niềm lạc quan tin tưởng cho quân và dân ta vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà. Ca khúc thời chống Mỹ mãi mãi là bài ca đi cùng năm tháng, sống mãi trong tâm hồn mỗi người dân Việt Nam.

Suy nghĩ của em về tinh thần yêu nước của con người Việt Nam mẫu 6

Nhân dân ta không chỉ giàu về tình nghĩa, truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo,… mà còn có lòng yêu nước nồng nàn, cháy bỏng. Lòng yêu nước trở thành một truyền thống đẹp đẽ, quý báu của nhân dân ta, nó được phát huy và thể hiện mạnh mẽ mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng. Truyền thống quý báu đó được thể hiện rõ nhất qua đoạn trích: “Tinh thần yêu nước của nhân dân ta” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bài văn được trích trong Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ II, tháng 2 năm 1951 của Đảng Lao động Việt Nam. Bài văn có thể coi là một mẫu mực về lập luận, bố cục và cách dẫn chứng của thể văn nghị luận.

Trước hết về nội dung, văn bản nêu lên luận đề cơ bản: “Nhân dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta”. Mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng, tinh thần ấy được phát huy một cách mạnh mẽ. Trong câu văn tiếp theo tác giả đã sử dụng động từ với hình thức tăng tiến: lướt qua, nhấn chìm cùng với đó là hình ảnh so sánh tinh thần yêu nước như một làn sóng mạnh mẽ, đã cho thấy rõ lòng yêu nước nồng nàn của nhân dân ta. Để làm sáng tỏ chân lí đó tác giả đã chứng minh nó ở hai thời điểm: quá khứ và hiện tại.

Bề dày lịch sử truyền thống yêu nước của nhân dân ta đã được tác giả đưa ra dẫn chứng cụ thể ở các thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Lê Lợi, Quang Trung,… đây là những vị anh hùng của dân tộc. Lấy những dẫn chứng hết sức tiêu biểu, mỗi nhân vật lịch sử gắn liền với một chiến công hiển hách, vang dội đã làm cho người đọc thấy rõ tinh thần yêu nước của tổ tiên, ông cha.

Không dừng lại ở đó, để mở rộng luận điểm, làm người đọc tin và bị thuyết phục hơn nữa, tác giả tiếp tục lấy dẫn chứng đến thời điểm hiện tại. Ở đoạn thứ ba Hồ Chí Minh tập trung chứng minh tinh thần yêu nước của nhân dân trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược bằng hàng loạt các dẫn chứng. Sau câu chuyển đoạn “Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước” Hồ Chí Minh đã khái quát lòng yêu nước ghét giặc của nhân dân: “Từ các cụ già tóc bạc đến các cháu nhi đồng trẻ thơ, từ những kiều bào ở nước ngoài đến những đồng bào ở vùng bị tạm chiếm, từ nhân dân miền ngược đến nhân dân miền xuôi, ai cũng một lòng nồng nàn yêu nước, ghét giặc”. Tiếp đó bằng hình thức liệt kê, kết hợp với mô hình liên kết từ …đến Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho thấy rõ lòng yêu nước của mọi tầng lớp, lứa tuổi, giai cấp,… Những dẫn chứng đó vừa cụ thể vừa toàn diện, thể hiện sự cảm phục, ngưỡng mộ tinh thần yêu nước của đồng bào ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Phần cuối văn bản là lời khẳng định tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý, chúng có thể rõ ràng dễ thấy nhưng cũng có khi được “cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm”. Lần đầu tiên, một thứ vô hình là lòng yêu nước lại được Bác cụ thể hóa, hữu hình hóa một cách vừa giản dị vừa cao quý đến như vậy. Qua lời của Bác, lòng yêu nước không phải những điều lớn lao, xa vời mà nó giản dị, ở ngay xung quanh ta. Nhiệm vụ của ta lại phải phát huy lòng yêu nước đó thành những hành động, việc làm cụ thể trong công việc kháng chiến, công việc yêu nước.

Về nghệ thuật, bài văn có bố cục chặt chẽ, gồm ba phần (phần một nêu lên vấn đề nghị luận “tinh thần yêu nước của nhân dân ta”; phần hai chứng minh tinh thần yêu nước trong quá khứ và hiện tại; phần ba nhiệm vụ của Đảng trong việc phát huy tinh thần yêu nước). Lập luận mạch lạc, rõ ràng, lí lẽ thống nhất với dẫn chứng. Dẫn chứng phong phú, cụ thể, được diễn đạt bằng những hình ảnh so sánh cụ thể, sinh động.

Bài văn đã làm sáng tỏ chân lí muôn đời của cha ông ta đó là truyền thống yêu nước nồng nàn, sẵn sàng đấu tranh và hi sinh để giành tự do, độc lập cho dân tộc. Truyền thống đẹp đẽ đó cần phải được phát huy mạnh mẽ vào công cuộc kháng chiến của toàn dân tộc.

Câu 20 : ( giống câu 18 )

Bạn có biết?

Lịch sử là môn khoa học nghiên cứu về quá khứ, đặc biệt là những sự kiện liên quan đến con người. Đây là thuật ngữ chung có liên quan đến các sự kiện trong quá khứ cũng như những ghi nhớ, phát hiện, thu thập, tổ chức, trình bày, giải thích và thông tin về những sự kiện này. Những học giả viết về lịch sử được gọi là nhà sử học. Các sự kiện xảy ra trước khi được ghi chép lại được coi là thời tiền sử.

Nguồn : Wikipedia - Bách khoa toàn thư

Tâm sự 7

Lớp 7 - Năm thứ hai ở cấp trung học cơ sở, một cuồng quay mới lại đến vẫn bước tiếp trên đường đời học sinh. Học tập vẫn là nhiệm vụ chính!

Nguồn : ADMIN :))

Copyright © 2021 HOCTAP247