Dưới ba Triều Nguyễn : Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, có một vị đại thần mà chúng ta ai cũng đều biết tiếng, cũng đều nhắc đến luôn, là Phan Thanh Giản. Vị đại thần ấy là một bậc nho tướng, nho thần, thanh liêm, cần mẫn, đạm bạc và giản dị. Sự nghiệp chính trị và sự nghiệp văn chương của ông đã được ghi nhiều trong lịch sử. Nhưng cuộc đời quan lại của ông rất mực thăng trầm. Năm lần bị giáng chức, một lần bị cách lưu và cuối cùng, sau khi đã chết, bị truy đoạt chức tước, phẩm hàm, đục bia tiến sĩ. Từ năm 1862 đến năm 1867, ông được giao nhiệm vụ khó khăn nhất, là thương lượng với tư bản Pháp để ở trên bàn hội nghị giành lấy những cái đã mất trên chiến trường, và bị lên án nặng nề nhất, đến chết vẫn chưa thôi.
Phan Thanh Giản ra đời năm 1796, giờ Thìn, năm Bính Thìn, sáu năm trước khi vua Gia Long lên ngôi (1802), tại làng Bảo Thạnh, cách chợ quận Ba Tri hai mươi cây số ngàn, đường đất hoang dại, cỏ lấp lối đi, giữa những rừng sú và dừa nước vắng lặng. Từ Pháp về đây thăm quê hương, chúng tôi đi xe Mazda bốn chỗ ngồi. Xe đã ba mươi lăm tuổi nhưng còn chạy được, thế mới biết tài tinh xảo của người Việt Nam. Vì đường đất gập ghềnh, xe chỉ chạy trung bình hai mươi cây số một giờ. Người ta gọi nơi đây là Gãnh mù u, đất đai cằn cỗi nhiều sỏi đá.
Cha ông là Phan Thanh Ngạn, một viên chức nhỏ, dòng dõi nho gia thanh bần. Mồ côi mẹ năm lên bảy tuổi, Phan Thanh Giản được ông ngoại đem về nuôi và dạy dỗ. Năm sau hai em Giản, một trai một gái, bệnh không tiền thuốc men, lần lượt đi theo mẹ. Ông bà ngoại quyết định gởi Giản cho nhà sư Nguyễn văn Noa ở chùa Phú Ngãi. Bà nghĩ cho nó làm con nhà chùa may ra mới giữ được cháu ở lại với bà. Ông cũng mừng vì cháu được tiếp tục học bởi bụng ông cũng hết chữ rồi.
Năm 1815, lúc Phan Thanh Giản lên mười chín tuổi, cha bị bắt vì tội hết sức vu vơ, có ý muốn ăn hối lộ. Hơn ai hết, Phan Thanh Giản hiểu cha mình. Ông sống thanh liêm, thương kẻ nghèo khó khốn cùng. Vì thế Phan Thanh Giản xách khăn gói lên tỉnh Vĩnh Long nơi cha bị tù để săn sóc cha và xin làm mọi công việc phục dịch của một người tù. Đã vậy, tối về Phan Thanh Giản chong đèn học đến khuya.
Quan lương hiệp trấn ở Vĩnh Long thấy nhân cách và trí thông minh của Phan Thanh Giản, bèn gửi Phan Thanh Giản cho đốc học Võ Trường Nhơn, một thày giáo có uy tín lớn cả vùng Vĩnh Long. Đây là năm 1816, Phan Thanh Giản vừa đúng hai mươi tuổi.
Tên tuổi người con trai nghèo khó, hiếu thảo, ham học và sáng dạ truyền khắp tỉnh Vĩnh Long. Bà quả phụ Nguyễn thị Ân giầu có và thương người hiền đức, nhận Giản làm con nuôi và đài thọ tổn phí ăn học.
Năm năm sau, năm 1825, Minh Mạng thứ tám, Phan Thanh Giản đỗ cử nhân, trong khoa thi hương ở Gia Định. Năm sau, 1826, ông đỗ tiến sĩ sắp hạng thứ ba trong số chín người đỗ, sau Hoàng Tế Mỹ người Sơn Tây và Nguyễn Huy Hựu người Hải Dương. Ông là người tiến sĩ đầu tiên ở Nam Kỳ.
Ngữ văn có nghĩa là: - Khoa học nghiên cứu một ngôn ngữ qua việc phân tích có phê phán những văn bản lưu truyền lại bằng thứ tiếng ấy.
Nguồn : TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆTLớp 8 - Năm thứ ba ở cấp trung học cơ sở, học tập bắt đầu nặng dần, sang năm lại là năm cuối cấp áp lực lớn dần nhưng các em vẫn phải chú ý sức khỏe nhé!
Nguồn : ADMIN :))Copyright © 2021 HOCTAP247